Ngày 10/5/2026 tại Hà Nội, Đề tài khoa học: “Nghiên cứu tác động năng lượng vũ trụ nâng cao sức khỏe, phòng chống bệnh tật” do Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Năng lượng Đặc biệt thực hiện đã được bảo vệ thành công và được Hội đồng nghiệm thu chấm điểm “Xuất sắc”. Hội đồng nghiệm thu đánh giá rất cao nỗ lực của đội ngũ thực hiện trong việc thu thập dữ liệu thực tế, hệ thống hóa dữ liệu, phân tích, đúc kết, định danh khái niệm năng lượng vũ trụ (NLVT), đánh giá hiệu quả của phương pháp ứng dụng NLVT cải thiện sức khỏe con người, tạo nền tảng đầu tiên cho quá trình xây dựng hệ thống lý luận về khả năng chữa bệnh không dùng thuốc theo tinh thần khoa học.
Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Năng lượng Đặc biệt (NC&UDNLĐB) trực thuộc Viện Nghiên cứu và Ứng dụng tiềm năng con người (NC&UDTNCN) – thành viên của Liên hiệp Các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam. Năm 2023, Trung tâm được thành lập, tập trung nghiên cứu, đào tạo và ứng dụng phương pháp tác động NLVT có khởi nguồn từ khả năng đặc biệt của Thầy Trần Văn Phú, chủ trì Chùa Hang, Hà Tĩnh. Trên thực tế, phương pháp này đã được kiểm chứng từ nhiều năm trước, đến giai đoạn 2012-2015 đã được một số nhà khoa học tìm hiểu, nghiên cứu và tiếp tục được phát triển theo hướng chuẩn hóa trong các giai đoạn tiếp theo.
Chủ nhiệm Đề tài là PGS. TS Trần Đình Thiên, Phó chủ nhiệm Đề tài là PGS. TS. Ngô Thị Thu Thoa và Thư ký đề tài là KS. Trần Thu Hà, Giám đốc Trung tâm NC&UDNLĐB. Các ủy viên thực hiện Đề tài là các nhà khoa học, nhà nghiên cứu uy tín: PGS.TS. Nguyễn Hồng Quang; TS.BS. Trần Thống Nhất; ThS. Nguyễn Văn An; NNC. Phạm Thị Tân; TS. Trần Văn Phúc. Đề tài được bảo vệ thành công vào thời điểm Trung tâm NC&UDNLĐB tròn 3 năm hoạt động. Với sự hướng dẫn của Thầy Trần Văn Phú và Giáo sư, Viện sỹ Đào Vọng Đức, nguyên Viện trưởng Viện Vật lý, Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, trong 3 năm qua, Trung tâm đã tổ chức nhiều khóa đào tạo, nhằm khai mở và lan tỏa phương pháp ứng dụng NLVT hỗ trợ nâng cao sức khỏe. Nhiều học viên sau khóa học có khả năng ứng dụng NLVT cải thiện sức khỏe cho mình và người khác, là một trong những căn cứ thực tiễn để Trung tâm xây dựng đề tài nghiên cứu trên phạm vi rộng, nhằm đánh giá hiệu quả của phương pháp sử dụng NLVT cải thiện sức khỏe con người.
Kết quả nghiên cứu được tổng hợp trên 400 chẩn đoán từ 201 hồ sơ người bệnh nhằm đánh giá hiệu quả thực tiễn của phương pháp ứng dụng NLVT, làm cơ sở kiến nghị một số giải pháp chính sách để mở rộng khả năng hỗ trợ chăm sóc sức khỏe trong cộng đồng.
Báo cáo tóm tắt Đề tài nghiên cứu cho biết, trên thế giới, các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc đã được nghiên cứu và phát triển theo hướng liên ngành, nằm trong lĩnh vực y học bổ sung và y học tích hợp. Các phương pháp này thường được phân thành ba nhóm chính: (i) nhóm tự điều hòa nội sinh như thiền, yoga, khí công; (ii) nhóm liệu pháp trường năng lượng sinh học (biofield) như Reiki, Therapeutic Touch, Healing Touch – dựa trên giả định về sự tồn tại của trường năng lượng bao quanh và tương tác với cơ thể; và (iii) nhóm tác động thông qua ý thức như thôi miên lâm sàng, cầu nguyện và hiệu ứng giả dược. Điểm chung của các phương pháp là có hiệu quả thực tế thông qua các biểu hiện cải thiện sức khỏe ở người bệnh, dù cơ chế cụ thể vẫn chưa được giải thích một cách đầy đủ bằng các mô hình khoa học hiện hành.
Tại Việt Nam, các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc xuất hiện từ lâu, tồn tại chủ yếu dưới dạng thực hành gắn với các cá nhân có khả năng đặc biệt, chưa hình thành hệ thống như trên thế giới. Biểu hiện trong thực tiễn rất đa dạng về hình thức, nhưng đều cho thấy hiệu quả nhất định trong cộng đồng dù cơ chế chưa được lý giải đầy đủ. Trường hợp tiêu biểu từng được một số nhà khoa học nghiên cứu là Cụ Nguyễn Đức Cần (Hà Nội) có thể chữa bệnh thông qua lời nói, thậm chí không cần tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân. Bà Nguyễn Thị Nghi (Hải Dương), ông Đỗ Vạn Thông (Quảng Nam), bà Phạm Thị Phú (Thái Nguyên)… cũng thực hành chữa bệnh không dùng thuốc. Mỗi người có một phương pháp riêng, nhưng đặc điểm chung là cá nhân đóng vai trò là trung tâm, hiệu quả được ghi nhận rõ trong thực tế nhưng thiếu hệ thống nghiên cứu khoa học và chuẩn hóa.
Khác với đặc điểm cá nhân hóa của các phương pháp trên, phương pháp ứng dụng NLVT mở ra một hướng tiếp cận có tính nền tảng khi đặt trọng tâm vào chiều nội tại của con người, xem NLVT là thành tố năng lượng bản thể nội tại chi phối và có khả năng tái tạo toàn bộ các tầng năng lượng sinh học và các biểu hiện sức khỏe. Đề tài nghiên cứu được bảo vệ thành công xác lập một bước tiến vững chắc trong việc làm rõ các đặc trưng cốt lõi, từ đó định vị NLVT trong bức tranh chung của các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc, đồng thời mở ra khả năng xây dựng một hướng tiếp cận thống nhất hơn, đi từ bản thể năng lượng nội tại của con người đến các ứng dụng cụ thể trong nâng cao sức khỏe và hóa giải bệnh tật.
Đề tài sử dụng dữ liệu nghiên cứu thực tế từ 30 học viên NLVT tham gia hỗ trợ sức khỏe cho 201 người bệnh, với tổng cộng 400 lượt ghi nhận sự chuyển biến của các nhóm bệnh khác nhau như cơ xương khớp, thần kinh, tiêu hóa, tim mạch, nội tiết – chuyển hóa, da liễu, thận – tiết niệu và cả các bệnh lý có mức độ phức tạp cao như u và ung thư (xem bảng). Hoạt động ứng dụng NLVT được thực hiện tại 27 tỉnh/thành, trải rộng trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam, đồng thời có sự xuất hiện của một số trường hợp ngoài lãnh thổ Việt Nam. Trong 400 lượt ghi nhận theo chẩn đoán, mức đỡ rất nhiều (56,8%) và khỏi hẳn (42,5%) chiếm ưu thế. Dữ liệu được ghi theo lượt chẩn đoán, không phải theo từng bệnh nhân. Do đó, một người có thể đóng góp nhiều kết quả tương ứng với nhiều bệnh lý.
Đề tài nghiên cứu làm rõ điểm đặc biệt của phương pháp tác động NLVT là không chỉ dừng lại ở hiệu quả của một cá nhân mà có khả năng đào tạo, lan tỏa và hình thành năng lực ở học viên sau khi được khai mở. Khả năng đặc biệt của con người được xem là biểu hiện cụ thể của tiềm năng nội tại khi NLVT được kích hoạt và vận hành ở mức cao hơn so với trạng thái thông thường. Ứng dụng NLVT trong hỗ trợ nâng cao sức khỏe được tiếp cận như một quá trình kích hoạt và thúc đẩy cơ chế tự chữa lành của cơ thể. Theo đó, việc hỗ trợ không nhằm thay thế các phương pháp điều trị y học hiện đại, mà góp phần cải thiện trạng thái vận hành chung của cơ thể, từ đó hỗ trợ quá trình phục hồi. Các kết quả ghi nhận trong thực tiễn có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi hiệu quả lâm sàng đơn thuần, cho thấy đây không chỉ là hiện tượng, mà có thể được xem là biểu hiện của một cơ chế nội tại có tính hệ thống, đặt nền tảng cho việc tiếp tục nghiên cứu và đánh giá theo hướng khoa học.
Nhóm Nghiên cứu đề xuất tiếp tục đẩy mạnh các nghiên cứu có thiết kế chặt chẽ hơn, theo dõi dài hạn và tiêu chí đánh giá rõ ràng. Đồng thời, mở rộng hướng nghiên cứu liên ngành (vật lý, sinh học, y học…) để tiếp cận sâu hơn về cơ chế tác động NLVT và tìm kiếm các phương pháp đo lường trực tiếp hoặc gián tiếp phù hợp. Về ứng dụng thực tế, cần xem xét ứng dụng NLVT như một phương thức hỗ trợ bổ sung trong chăm sóc sức khỏe, đặc biệt trong các trường hợp đa bệnh, bệnh mạn tính hoặc khi cần nâng cao chất lượng sống. Việc triển khai cần có theo dõi, chuẩn hóa và phối hợp phù hợp với y học hiện đại để đảm bảo hiệu quả và an toàn.
Cùng với đó, Nhóm Nghiên cứu đề xuất xem xét cho phép đào tạo và phát triển mở rộng đội ngũ ứng dụng NLVT hỗ trợ chăm sóc sức khỏe trong cộng đồng dưới sự quản lý phù hợp. Khi được tổ chức bài bản với tiêu chí đào tạo, giám sát rõ ràng, hướng tiếp cận này có thể góp phần phát huy tiềm năng con người, hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cộng đồng và giảm áp lực cho hệ thống y tế trong bối cảnh nhu cầu chăm sóc ngày càng gia tăng.
Theo Quyết định của Viện NC&UDTNCN, Hội đồng nghiệm thu gồm PGS.TS. Đinh Xuân Thảo – Chủ tịch Hội đồng; TS. Phạm Văn Tân – Phản biện; GS.TS. Nguyễn Thanh Thủy – Phản biện; TS. Nguyễn Ngọc Thạch – Thư ký; PGS.TS. Dược sĩ Bùi Hoàng Oanh – Ủy viên; Nhà báo – NNC Nguyễn Thị Tuyết Mai – Ủy viên. Sau quá trình phản biện, thảo luận, Hội đồng thống nhất chấm điểm “Xuất sắc” cho Đề tài nghiên cứu và kết luận: “Đề tài đã hoàn thành đầy đủ mục tiêu và nội dung nghiên cứu; Kết quả có giá trị khoa học và thực tiễn; Dữ liệu nghiên cứu phong phú, có ý nghĩa định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo”.
Dưới đây là 1 số hình ảnh tại buổi Nghiệm thu của Hội Đồng Khoa học./


